Chuyện về những đại phú gia người Hoa ở Sài GònChợ Lớn: Chú Hỏa, Quách Đàm, Tạ Mã Điền

0
1

Lịch sử thành phố Chợ Lớn gắn liền với thương mại mà ở thế kỷ 20 xuất hiện các nhân vật đặc biệt. Các doanh nhân này đã để lại dấu ấn ít nhiều trong ký ức người dân Sài GònChợ Lớn không những về phương diện kinh tế mà còn văn hóa xã hội.

Trong dân gian có nói cửa miệng về “tứ đại phú”, nói về những đại phú gia giàu có nhất xứ Nam kỳ, như “Nhất Sỹ, nhì Phương, Tam Xường, tứ Hỏa” (hoặc tứ Định), và có câu khác nữa là “Nhất Hỏa, nhì Đàm, tam Xường, tứ Ích“. Dù là câu nói nào thì trong những đại phú gia đó đều có sự xuất hiện của những doanh nhân gốc Hoa.

Trong bài đầu tiên nói về những người Hoa nổi tiếng đất Nam kỳ, xin nhắc về 3 người đã để lại cho hậu thế những công trình vẫn còn được sử dụng cho đến nay ở Sài Gòn. Nếu như chú Hỏa (Hui Bon Hoa) có Nhà chú Hỏa ngày nay là Bảo tàng Mỹ Thuật trên đường Phó Đức Chính, thì Quách Đàm đã xây chợ Bình Tây, là ngôi chợ lớn nhất Chợ Lớn cho tới nay. Riêng Tạ Mã Đàm là người góp tiền xây dựng trường trung học Pháp-Hoa (Lycée Franco-Chinoi), sau 1955 là trường Trung học Bác Ái Học Viện, nay là trường Đại học Sài Gòn.

Quách Đàm

Trong số các thương gia tiêu biểu giàu có và nổi tiếng đầu thế kỷ 20 ở Saigon và Chợ Lớn, ngoài ông Bá hộ Xường là các ông Tạ Mã Điền, Quách Đàm. Tạ Mã Điền gốc người Phúc Kiến từ Java, thuộc địa Hòa Lan) trong khi Quách Đàm là người gốc Triều Châu từ Trung Quốc, cả hai đến Chợ Lớn lập nghiệp, buôn bán và thành công vượt bực làm chủ các nhà máy xay lúa, địa ốc, các cơ sở làm ăn trong Chợ Lớn trong thập niên 1920. Họ định cư và coi Việt Nam là quê hương thứ hai của họ.

Như nhiều thương gia ở Chợ Lớn, Quách Đàm có liên hệ với các thương gia ở Singapore trong đó có ông Tan Eng Kok (Trần An Quốc). Trong một thông báo đăng trên báo “The Singapore Free Press and Mercantile Advertiser” ngày 24 April 1923, trang 5, luật sư. A. De Melo, của công ty “Société Thong Hup Nguyen Seng”, và các ông Trần Chiêu Vinh và Quách Đàm (viết theo tiếng Anh là Kwek Tam hay Kwek Siew Tee) đã tuyên bố rút lại các giấy tờ ủy nhiệm quyền đại diện của công ty ở số 80 Boat Quay, Singapore cho ông Trần An Quốc (Tan Eng Kwok cư ngụ tại số 80 Boat Quay) và ở 192 New Bridge Road, Singapore từ các năm 1920, 1921. Công ty Thong Hup (Thông Hiệp) chính là công ty của ông Quách Đàm.

Ngoài tên Kwek Tam (Quách Đàm) hay Kwek Siew Tee (Quách Xiêm Chi) phiên âm ra tiếng Anh, Quách Đàm có thể còn có các tên khác phiên âm qua tiếng Anh. Điều này thường thấy ở người Hoa giàu có, mang các quốc tịch khác nhau như một bài viết trên báo “The Singapore Free Press and Mercantile Advertiser” (4/8/1899) cho biết là tờ báo “Le Mekong” ở Saigon đã có bài than phiền là nhà chức trách Pháp đã quá dễ dàng cho những thương gia giàu ở Chợ Lớn, Nam Kỳ được có quốc tịch Pháp. Và chính những người này cũng đã có quốc tịch khác như Anh, Hòa Lan với các tên khác. Khi ở Nam Kỳ thì họ dùng quốc tịch và tên Anh để dễ làm ăn và có đặc quyền mà lãnh sự Anh có qui chế cho các kiều dân của họ, và ngược lại khi ở các thuộc địa Anh thì họ dùng tên trên giấy tờ quốc tịch Pháp.

Ngoài câu nói “Nhất Sĩ, nhì Phương, Tam Xường, tứ Định” để chỉ các nhân vật giàu có ở Sài GònChợ Lớn, còn có câu nói riêng về các người Hoa giàu có ở Sài GònChợ Lớn là “Nhất Hỏa, nhì Đàm, tam Xường, tứ Ích“, cho thấy Quách Đàm là nhân vật Hoa kiều thứ hai sau chú Hỏa về cơ sở thương mại và sức mạnh kinh tế. Trụ sở của nhà buôn Quách Đàm nằm ở bến Quai de Gaudot cạnh rạch Chợ Lớn (sau này khi rạch lấp, Quai de Gaudot trở thành đại lộ Boulevard Gaudot, sau thời Pháp là đường Khổng Tử và nay là Hãi Thượng Lãn Ông). Tòa nhà này hiện nay vẫn còn.

Trong phần lớn thập kỷ cuối cùng của cuộc đời, dù sức khỏe yếu và bị liệt một phần, Quách Đàm vẫn tiếp tục đóng một vai trò tích cực trong các công việc kinh doanh và cộng đồng của Chợ Lớn. Ngày nay, ông vẫn được biết đến nhiều nhất với vai trò quan trọng trong việc xây dựng Chợ Bình Tây.

Theo Vương Hồng Sển thì “Khi Quách Đàm chết, đám ma lớn không đám nào bằng. Bàn đưa không thể đếm. Đủ thứ nhạc Tây, Tàu, Ta, Miên… Khách đi dường có việc, miễn nối gót theo đám ma vài bước là có người lễ phép đến dâng một ly nước dừa hay la ve (bia) và riêng tặng một quạt giấy có kèm một tấm giấy “ngẫu” (năm đồng bạc) đền ơn có lòng đưa đón! Quách Đàm được chôn ở gần chùa Giác Lâm giáp ranh Chợ Lớn và Gia Định”.

Cũng theo Vương Hồng Sển thì tương truyền Quách Đàm rất mê tín, tin phong thủy được thầy bói Tàu nói là nơi trụ sở bến Gaudot là nơi “đầu một con rồng” mà khúc đuôi nằm ở biển cả. Vì thế Quách Đàm không bao giờ đổi trụ sở dù là nhà mướn, đi nơi khác sau khi rất giàu có thành công trên đường làm ăn. Nên khi xảy ra sự việc lấp kinh thành đường thì ông tin rằng cơ sản làm ăn lụn bại vào lúc thời khủng hoảng kinh tế thế giới 1929 là do việc lấp kinh Chợ Lớn này. Tuy vậy, Vương Hồng Sễn đã sai lầm về dữ kiện này vì thật ra Quách Đàm đã mất từ năm 1927.

Hai bài báo đăng ở nhật báo Le Journal phát hành ở Paris và tờ báo Écho Annmite ở Saigon đăng lại bài trên báo L’Impartial có nói về đám tang của Quách Đàm.

Trong bài báo tựa đề “Le Bouddha de la richesse“, đăng ở tờ nhật báo “Le Journal” xuất bản ở Paris ngày 18 tháng 7 năm 1927 có đăng bài của phóng viên Georges Manue về cuộc đời và đám tang của Quách Đàm cho biết nhiều chi tiết về con người Quách Đàm. Mặc dầu ông bị liệt giường bất động từ nhiều năm trước khi mất, nhưng đầu óc vẫn minh mẫn và ông vẫn tiếp tục điều khiển công việc làm ăn từ giường nằm. Bài báo này cũng cho biết, Quách Đàm từ một người bước xuống Chợ Lớn từ trong hầm tàu đi ra trên tàu khởi hành ở Hồng Kông, trên tay hoàn toàn không có gì mà chỉ không bao lầu ông đã trở thành đại phú đến hai lần.

“…

Lúc thuở ban đầu, ông làm bồi, cu li, bán súp hủ tiếu, tiểu thương kiếm lời từ xu đến chủ tiệm sang trọng, một nhà doanh nghiệp khôn khéo và biết bao nghề khác đã mang lại cho ông một tài sản khổng lồ mà chỉ trong vòng vài giờ ông đã mất hết trong trò chơi thương mại mà trước đó đã phục vụ ông rất tốt.

Hôm qua giàu, sáng nay nghèo giống như ngày ông từ Hong Kong ở trần từ hầm tàu bước xuống Chợ Lớn, ông không một mảy may tuyệt vọng, hay nao núng.

Nghèo tiền, nhưng giàu kinh nghiệm. Cũng chịu cực,cũng trau chuốt, cũng mềm dẽo từ một tinh thần dày dặn như trước kia, chỉ trong vòng 20 năm ông đã làm lại sự nghiệp và vượt quá đến nổi đã làm ngạc nhiên nhiều người Âu khi ông có cả chục triệu tiền piastres nhân lên 12 hay 13 lần để chuyển thành tiền franc

Ông làm ra tiền chỉ vì mê trò chơi thương trường. Ông có nhiều ruộng lúa và nhiều nhà may xay xát. Ông có cả ngàn hec ta cao su, trước khi cao su trở thành mốt làm ăn, và cả đất trồng trà, cà phê và một dội tàu thương mại đi các cảng Singapore, Hồng Kông.

Ông đứng đầu cả trăm tiệm, cơ ngơi thương mại, và điều khiển nhiều chục công việc, xây dựng nhiều khu hoàn toàn mới Nước Pháp đã tặng ôn huy chương Bắc đẩu bội tinh mà ông lấy đó làm hảnh diện.

Trong nhiều ngày thi hài đã dược đặt dưới tán lều để tất cả Chợ Lớn- từ điền chủ và nhà thương mại đi bằng 40 con ngưa đến các cu-li bụng trầnđến cúng viếng. Ngồi hàng dài, mặc đồ tang trắng là các con ngồi bất động, nhận chia buồn và phúng điếu của bá tánh.

Đám tang không những làm ngạc nhiên đối với người Hoa, với họ không hoành tráng nào là đủ, và người Việt, kém xa hoa hơn, mà ngay cả người Âu.

Hai ngàn cờ hiệu bằng lụa, hình chữ nhật dài 3m và ngang 2m, màu hồng, sám, xanh da trời, vàng và xanh lá cây được trang hoàng bằng những chữ vàng, ca ngợi công đức của người đã mất. Gió làm chúng phồng lên như cánh buồm con tàu có gân vàng, những người mang chúngdân Chợ Lớngià có thể được như vây và trẻ ngày mai muốn trở thành Quách Đàm, lưng tròn bám vào các cột tre xanh. Để người mất không phải bị đói ở thế giới kia, cả trăm cu-li mang trên kiệu những hàng kiến trúc hoa quả đáng phục, các kim tự tháp rau quả, các ma quỷ tạc vào bí rợ hay trái ớt, các con rồng được mô hình trên các trái cây đẹp mắt, và món để dành cao vị nhất là mười con heo to lớn, `mg dài trên đệm bằng giấy, bụng chúng mổ ra, mỏm chúng nướng đỏ tươi sáng. Những “biểu tượng bề ngoài cho sự giàu có” đi trước xe tang: một xe hơi, lộng lẫy tự nhiên, làm giống y như xe hơi của người đã khuất, xe kéo, xe ngựa buộc vào hai con ngựa kéo nhún nhẩy, và sau cùng một con tàu dài hai thước mang cờ hiệu Pháp-Hoa, một công trình tuyệt vời bằng giấy, bằng giây sắt và lụa mà những người nghèo khó mang rất tự hào trên vai trần của họ

Trước xe tang là thập tử Bắc đẩu bội tinh cao như người bằng giấy cạt tông (carton) do một người cầm trên hai tay.

Xe tang là xe vận tải camion trang trí đầy hoa và quả, ngay trước xe là di ảnh chụp của ông Quách Đàm, trang trọng một cách tự nhiên đầy uy quyền, mĩm cười và trên ngực là các huy chương

Quan tài bình thường nhưng bằng gỗ quý. Đằng sau là 50 xe hơi sang trọng, thuộc tinh hoa của Chợ Lớn, theo sau

Đám tang kéo dài hai tiếng với âm nhạc lạ kỳ.

Dân chúng người Hoa ở đầy vĩa hè, các cửa sổ, trên các cành cây, trên nóc nhà xem đám tang đầy cảm phục nhưng không ngạc nhiên.

Sự đau buồn, không có một dấu hiệu nào ở những người mà cái chết không đáng sợ gì khi mà người đó không còn buộc các con tưởng nhớ họ

Người hướng dẫn viên nói tôi “Anh thấy đó, đây là một bằng chứng mà người Hoa có thể làm được khi mà họ sống dưới một chính phủ vững vàng bảo đảm được an ninh cho họ làm ăn”

Quách Đàm mất ngày 14/5/1927, thọ 65 tuổi. Cáo phó đăng trên tờ Écho Annamite (Tiếng Vọng An Nam) ngày 18/5/1927 như sau:

“Avis de décès

Madame Quach-Dam; Monsieur Quach-Khoi ; Monsieur Quach-Tien ; Monsieur Quach-Chi; Monsieur Quach-Hoc ;

Ont la douleur de vous faire part de la perte cruelle qu’ils viennent d’éprouver en la personne de leur époux et Père

Monsieur QUACH-DAM,

Négociant-Industriel, Chevalier de la Légion d’Honneur, Chevalier de l’Etoile Noire, Chevalier de l’Ordre royal du Cambodge,

Décoré par le Gouvernement Chinois de l’Ordre de Chiaho,

décédé le 14 Mai 1927, dans sa 65è année, en son domicile, 114, Boulevard Gaudot, à Cholon.

Les cérémonies rituelles auront lieu les Samedi et Dimanche 21 et 22 Mai courant.

Vous êtes prié de bien vouloi assister au convoi funèbre, qui partira de Cholon, le Dimanche 29 Mai, à 8 heures du matin.

(tạm dịch

Cáo phó

Bà Quách Đàm, ông Quách Tiến, ông Quách Chi, ông Quách Hộc;

Đau đớn báo tin về sự mất mát lớn lao của chúng tôi là chồng và cha chúng tôi

Ông QUÁCH ĐÀM,

Thương gia, kỹ nghệ gia, huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh hạng hiệp sĩ, huân chương Sao Đen hạng hiệp sĩ (của nước Phi Châu Dahomey tức Benin ngày nay), huân chương hiệp sĩ Hoàng gia Cam Bốt.

Được thưởng bởi chính phủ Cộng Hòa Trung Hoa huân chương Chia Ho

Đã từ trần ngày 14 tháng 5 1927, thọ 65 tuổi tại tư gia ở số 114 đại lộ Gaudot, Chợ Lớn.

Nghi lễ đám tang sẽ được tổ chức vào ngày thứ bảy và chủ nhật 21 và 22 tháng 5 1927.

Chúng tôi kính cẩn mời quý ông quý bà đến giúp đỡ đưa tiễn đoàn đám tang, rời Chợ Lớn lúc 8 giờ sáng ngày chủ nhật 29 tháng 5.

Đám tang Quách Đàm thật là đình đám, khởi hành từ nhà ông đến nghĩa trang Phú Thọ. Tờ Écho Annamite (Tiếng Vọng An Nam) ngày 31/5/1927 đã có bài phóng sự về đám tang Quách Đàm như sau, đăng lại từ báo “l’Impartial” (Trung Lập). Qua bài phóng sự này về đám tang đầy nghi thức Trung Hoa, được hảng phim Indochine Films quay, khen ngợi công dân nhập tích Pháp là ông Quách Đàm, chúng ta cũng biết được tên thật của Quách Đàm là Quốc Triệu Chí (chú thích tác giả: thật ra là Quách Xiêm Chi) và thi hài ông được cải tang mang về Hồng Kông.

Lời nói đầu của báo Tiếng Vọng An Nam, phía trên bài phóng sự trích dẫn từ báo l’Impartial cho thấy quan điển của tờ Tiếng Vọng An Nam là dung bài này để chống lại sự ngụy biện của chính quyền lúc bấy giờ về sự từ chối của chính quyền cho quốc tịch Pháp nhiều người thấm nhuần văn hóa Pháp còn nhiều hơn Quách Đàm và xứng đáng hơn, viện dẫn lý do là họ vẫn còn có văn hóa khác không xứng đáng.

Đám tang Quách Đàm

“Chợ Lớn hôm qua đã làm một lễ tang hoàn tráng cho ông Quách Đàm.

Sau bình minh, đại lộ Gaudot đã đen nghẹt kín người. Nhiều xe hơi đến rất khó khăn di chuyển. Nhiều hàng rào đã được thiết lập liền sau đó bởi một lệnh phục vụ công cộng quan trọng do ông Massei, ủy viên trung ương, điều hành được trợ giúp bởi ông Costa, phó ủy, ông Pétra, thuộc sở kỷ thuật cu/a thành phố Chợ Lớn, v.v…

Những sửa soạn cuối cùng

Trên đại lộ, hai nhà tranh to lớn được dựng lên, một gian để chứa các đồ quan trọng mà khi chôn cất một người Hoa giàu luôn phải có, gian kia bên ngoài giăng các vãi đen và trắng và bên trong là quan tài và rất nhiều băng hiệu vòng hoa (có hơn 1500) đến từ khắp mọi nơi ở Nam Kỳ và một số từ Bắc Kỳ, Cam Bốt và cả Trung Hoa nữa.

Các toán cu-li khuân vác rối rít chung quanh xe tang và đủ loại xe đưa đám. Đằng trước đoàn, chúng tôi để ý một xe mang một ảnh lớn của người đã khuất, bàn thờ tổ tiên và hai xe khác mang đầy loại giấy linh thiêng và các loại biểu tượng khác đủ loại.

Không lâu sau đó, ở chính giữa một đám đông chật kín, quan tài nặng được mang ra ngoài. Một ban nhạc An Nam khởi xướng âm nhạc, các cồng phát ra tiếng đau buồn. Ban quân nhạc bản sứ dưới sự điều khiển của ông Perulli, đứng thẳng hàng trước xe tang. Thi hài người đã khuất được đặt trong quan tài làm bằng chì, quan tài này được bao chung quanh bởi một quan tài khác rất cao làm bằng gỗ quý, tất cả đều được phủ bởi nhiều vãi. Hai ngọn đèn to lớn ở phía trên cháy chầm chậm. Một toán quân lính, lấy từ Đại đội Chợ Lớn của binh đoàn 1 lính khố đỏ (Tirailleurs Annamite), do trung úy Monnet chỉ huy, đứng vào vị trí để làm vinh dự, vì người đã khuất là hiệp sĩ Bắc Đẩu Bội Tinh.  

Sau đó, trong lúc người quay phim của hảng Indochine Films chăm chú quay, quan tài được mang lên xe tang, hoàn thành hết các thủ tục cuối cùng. Rất nhiều quan khách bắt đầu đi tiến dồn vào.

Rất có phương pháp trật tự, các cờ hiệu đã được đánh số kỹ lưỡng, đi chậm rãi trên đường Lareynière (Lương Nhữ Học ngày nay) và đường rue des Marins (đường Thủy Binh, sau này là Đồng Khánh và nay là Trần Hưng Đạo nối dài), cũng như vô số vòng hoa, bó hoa và ngay cả các thú vật đẹp đẻ làm bằng hoa.

Tất cả thành viên gia đình trong đoàn tang, chịu tang, đàn ông mặc áo dài trắng, đầu phủ một loại mũ khá lạ rất chắc màu nâu đỏ, hay xanh da trời đậm nếu là họ hàng xa. Tất cả những người công bộc giúp việc cũng trong bộ đồ tang, màu xanh lợt và đàn bà thì màu đen.

Bây giờ đến những biểu tượng cuối cùng: hai xe kéo được trang hoàng rất cẩn trọng, một vài xe ngựa làm rất giống như thật, một tàu kéo sà lúp (chaloupe) hơi nướcthể hiện là người đã khuất là chủ tàu và các xe rất thành công. Ở chính giữa rất nhiều những vật như vậy là một cái kiệu nhỏ làm bằng lụa vang và xanh da trời, ngay trước xe tang, và dưới kiệu là một cái gối dựa màu đỏ sậm trên đó có gắn 10 huy chương của người đã khuất, với huy chương chử thâp Bắc đẩu bội tinh ở hàng đầu. Kiệu này được cung kính khiêng cho đến nghĩa trang bởi những người thân nhất của người đã khuất.

Trong lúc đó, nhiều người nói chuyện. Những người lớn tuổi ở Chợ Lớn cho những người trẻ, hay những người khác chưa biết về cuộc đời lao lực tân tâm và những hoạt động phi thường của ông Quách Đàm, từ hơn 40 năm ở Nam Kỳ, bắt đầu từ một tình huống tầm thường khiêm tốn, nhưng nhờ nghị lực chuyên tâm rất hiếm, đã thay đổi vận mệnh. Ban đầu là tiểu thương, sau đó buôn bán gạo, rồi chủ tàu, buổi đầu của chiến tranh thế giới 1914 đã phá sản hoàn toàn sản nghiệp rất lớn của ông. Ông không bì sóng đánh chìm mà trở lại thành công còn hơn trước.

Nhưng lúc nào cũng nghĩ đến thuở hàn vi, và mặc dầu do bịnh liệt từ 10 năm, hạn chế trầm trọng hoạt động của ông, ông đã chịu đựng can đảm cho đến phút cuối cùng, vẫn biết giúp đỡ ủy lạo làm nhẹ bớt sự khốn quần trong xã hội, luôn hổ trợ các bệnh viện, trường học và các hội thợ thuyền, và không bao giờ thờ ơ đến sự đau khổ của người khác cũng như công việc cu/a mình.

Đoàn đám tang

Hiển nhiên chính là để tỏ lòng kính trọng cuối cùng đến tất cả các đặc tính xuất sắc rực rỡ này mà rất nhiều nhân vật Saigon và Chợ Lớn đã hiện diện sáng hôm qua, sau 7 giờ rưỡi chung quanh quan tài.

Chúng tôi nhận thấy những nhân vật, mà ngòi viết không viết hết đầy đủ được, ông Gazano, thị trưởng Chợ Lớn; ông Lefèvre, thị trưởng Saigon; ông Merle, tổng thư ký thị sảnh Chợ Lớn; ông Thomas, giám đốc Hảng rượu Bình Tây (Distilleries de Binh Tay); ông Levillain, des Services du Port; những hội viên cu/a Phòng thương mại người Hoa (Chambre de Commerce chinoise); ông Brandela, của nhà Bank Đông Dương (Banque de l’Indochine) ; bà Lasseigne và Soulet, của Banque Franco-Chinoise; bác sĩ Massias, bác sĩ trưởng bệnh viện Hôpital Drouhet, và phu nhân; bác sĩ Pradal ; ông André, trưởng phòng tòa thị sảnh Chợ Lớn: ông Kerjean, thư ký tòa án; ông Dété, quản trị viên công ty Société Commerciale ; ông Mathieu ; ông Béziat ; ông Gonon; ông Cavillon và hầu như tất cả thương kỹ nghệ gia ở Saigon và Chợ Lớn; Dr Ferrey, bác sĩ hải quân ; ông Magnien giám đốc đường lộ ; bà hiệu trưởng trường nữ sinh Chợ Lớn (Ecoles de filles de Cholon) ; ông Denome, kỹ sư ; ông Robert, hiệu trưởng trường lycée Franco-Chinois; đoàn đại biểu báo chi Hoa ngữ ở Nam Kỳ, tất cả các bang trưởng các bang người Hoa và rất nhiều trưởng các khu phố, ông Autret, giám đốc L’U. C. I. A. ; ông Scotto, cu/a công ty Société Commerciale française d’Indochine; đoàn đại biểu nhân viên phòng Thương mại ; ông Caffort ; ông Poulet, của công ty Courtinat ; giám đốc nhà máy cung cấp nước và điện (Usines de la Cie les Eaux et Electricité) : ông Génis, công ty Denis Frères, các đại diện Hải quân, Sở Y tế etc. etc.. và rất nhiều các nhân vật khác mà chúng tôi xin lỗi là không nêu tên hết được vì một cột báo không đủ và cũng rất là khó khăn, hôm qua, đi được nhanh khắp nơi để ghi nhận.

Hành trinh cuối cùng

Nhưng lúc này là 8 giờ.

Ba người con trai của người đã khuất, trong y phục tang trắng, đến đứng sau xe tang, cũng như các con dâu, cháu và những họ hàng, mỗi người được hổ trợ diều đi bởi hai người giúp việc, ở đây không có những người “khóc mướn” chuyên nghiệp.

Một lệnh ngắn được ra: sửa soạn nghim. Kê đó là tiếng lệnh mạnh mẽ: gác súng lên. Những nốt nhạc đầu tiên của bài La marche funèbre của Chopin, được chơi bởi Ban quân nhạc bản xứ, và từ từ, đoàn đám tang bắt đầu di chuyển.

Thời tiết lúc đầu thì bất định, lúc này thì lại sáng hơn chút. Một vài tia sáng mặt trời ấm xuất hiện chỉ trong chốc lát.

Trước xe tang, các cờ hiệu nối nhau như tranh vẽ một dãi lụa nhiều màu sắc dài đến gần 2km, chỉ có màu đỏ, màu của sự vui mừng là không có thôi; vãi lụa bóng sáng khắp nơi, ca tụng những công trạng của Quốc Triệu Chitên thật của ông Quách Đàmvới tất cả sự hối tiếc giữa những người Hoa ở Đông Dương về sự ra đi của ông.

Không tránh khỏi có vài lúc đi rồi lại phải dừng, đoàn đám tang đi trong lộ trinh đã định sẵn: đường rue Lareynière (Lương Nhữ Học), rue des Marins (đường Thủy binh, nay là Trần Hưng Đạo nối dài), avenue Jaccaréo (Tản Đà), quai de Mytho (bến Lê Quang Liêm, nay là đại lộ Võ Văn Kiệt), quai de Gaudot (nay là Hãi Thượng Lãng Ông), rue de Canton (Triệu Quang Phục). quai de Mytho — trở lại lần nữa — và rue de Paris (Phùng Hưng)..

Kế đó, từ đại lộ Tổng Đốc Phương (Châu Văn Liêm ngày nay) và đại lộ Thuận Kiều, đám tang đi chậm rãi đến nghĩa trang Phú Thọ.

Tất cả cờ hiệu lóng lánh, lung linh dưới ngọn gió hay dưới sự ve vuốt của mặt trời, tạo nên một quang cảnh rất ấn tượng. Chợ Lớn, ngày thường thì rất ồn ào, nhưng lúc này thật yên lặng, dường như bị rơi vào trạng thái sững sờ. Tất cả mọi người muốn xem, nhưng không có tiếng kêu than, hay xô đẩy chen lấn. Ông Quách Đàm ngay cả lúc mất vẫn luôn tạo một sự kính trọng !.

Một vài ban nhạc An Nam hay Trung Hoa, xen kẻ trong đoàn rước tang. Sáo, cồng, trống và đờn kéo được thay phiên nhau dạo lên. Trên nhiều cáng khiêng, có các con heo rô ti hay phết bóng, con dê, trái cây, bánh, hai con heo bụng mổ, đồ cúng, giấy bùa ngãi linh và những hình tượng khác. Tất cả những thứ này đi rất thứ tự và trong yên lặng dọc theo bến quai de Mytho, rue de Paris (đường Phùng Hưng) giữa sự kính trọng của người dân.

Sau gia đình và những nhân vật như đã kể trên, nhiều đoàn thể quan trọng cũng đi trong đám tang. Đây, trước tiên là học sinh trường tiểu học Nghĩa An, trường Văn hóa thể dục, và nhiều trường nữ, và đại diện cu/a rất nhiều nghiệp đoàn công nhân, mà ông Quách Đàm là người ân nhân bảo trợ: ngiệp đoàn Tiên Quan, nghiệp đoàn Won Quan, nghiệp đoàn Lit-Yut, nghiệp đoàn Đức Hòa, nhóm quan trọng có thế lực là nghiệp đoàn Si-Trac (công nhân rơm sợi) và nghiệp đoàn Si-Koc với ban nhạc của họ. Tất cả mọi người mặt đồ trắng biểu hiệu tang lễ hay đồ màu sám “quốc gia”, với các huy hiệu và hoa gắn ở lỗ nút áo, đứng chung dưới các băng rôn to lớn hay các cờ hiệu, mà đặc biệt trong đó có một cờ hiệu gây sự chú ý với hàng chữ “kính chào lần cuối từ tất cả nghiệp đoàn ở Chợ Lớn”.

Đúng vậy, cái chết không tha ai kể cả những người may mắn có tài. Ở Phú Thọ, lúc rất trễ gần đến hết buổi sáng, dưới bầu trời âm u, sau khi chôn cất còn có quan tài thứ ba đợi lúc bóc xác ông Quách Đàm. Bởi vì trong một năm, sau khi “hết hạn cơn gió lốc”, người Tàu giàu nhất ở Chợ Lớn sẽ lại lên đường đi Hồng Kông, để đến nơi an nghĩ thật sự vĩnh viễn ở đất tổ tiên và cuối cùng, sau một cuộc đời thật trọn vẹn, hưởng sự bình yên tuyệt đỉnh mà đức Phật đã hứa hen và đạt được hạnh phúc trong cõi Niết bàn”

Một chi tiết đáng để ý là theo bài nói về câu chuyện giữa hai ông Celestin Miche và ông Jean Boudot do ông Nguyễn Phan Long viết trên tờ Tiếng Vọng An Nam số ngày 4/6/1927 khi hai ông này dự đám tang Quách Đàm và tranh luận về các nghi thức văn hóa người Hoa có hợp hay không với vị trí công dân Pháp của Quách Đàm. Trong đó Bouchot và Miche được đưa phong bì có tiền sau khi thăm viếng. Bouchot muốn từ chối nhưng Miche nói đó là phong tục của họ thì phải theo như nhập gia tùy tục. Dữ kiện này cũng phù hợp với dữ kiện mà ông Vương Hồng Sễn có viết là mỗi người dự đám tang Quách Đàm đều nhận được tiền.

Con trai trưởng Quách Đàm là Quách Khôi cũng mất sau đó vào năm 1929, đám tang Quách Khôi cũng đình đám và lần này có phi công, ông Poulet tham dự và đặc biệt một phi cơ của công ty “Air-Asie” vừa mới sáng lập, bay trên doàn đám tang và thả bông hoa xuống.

Ngày 14/03/1930, gia đình Quách Đàm cùng nhiều quan chức chính quyền như ông Renault, thị trưởng thành phố Chợ Lớn; ông Eutrope, đại diện thống đốc Nam Kỳ và một số thương nhân, viên chức khác đã có mặt tham dự buổi đặt tượng Quách Đàm ở sân chính giữa chợ Bình Tây.

Tượng Quách Đàm được đúc bằng đồng đen, mặc triều phục Mãn Thanh, đội chiếc nón nhỏ, áo ngắn phủ phía ngoài áo thụng, tóc thắt bím, tay cầm những cuộn giấy và bản đồ. Tượng được đặt trên bệ đá trắng, xung quanh gắn giao long bằng đồng.

Ngày nay ký ức của người Saigon-Chợ Lớn về ông Quách Đàm chủ yếu là gắn liền với chợ Bình Tây và toà nhà trụ sở công ty Thông Hiệp trên đường Hãi Thượng Lãn Ông. Tuy nhiên còn nhiều dữ kiện về sự nghiệp thương mại, tính cách đầu tư và cá tính của ông còn chưa được biết. Báo Écho Annamite đăng ngày 2/5/1927 về nhà máy xay xát lúa của ông ở Mỹ Tho rất ô nhiễm đã làm 2 phần 3 dân chúng phải chịu bụi khói xã ra từ các ống khói vào nhà dân, bàn ghế, đồ gia dụng, quần áo bám đầy bụi, đường xá nhiều nơi phủ bụi dầy đến nổi không thấy được mặt đường nhựa hay cát. Ống khói nhà máy cao đến 32m nên xã bụi hầu như đến toàn thành phố và dự định sẽ làm cao thêm 6m. Và qua nhiều lần trinh báo của dân đến chính quyền về vấn đề ô nhiễm gây hại đến sức khỏe do nhà máy gây ra, nhưng vẫn không được giải quyết cho thấy Quách Đàm có thể khuynh đảo chính quyền địa phương cho ông được có thế hơn trong thương trường như tác giả bài báo đã cho rằng sức khỏe dân chúng bị đã đồng tiền áp đảo.

Ông Quách Đàm còn tham gia ủng hộ ông Candelier vào năm 1924, khi Văn phòng cảng Saigon, muốn cho thuê trong hai mươi năm lợi nhuận thuế cảng, cộng với sự độc quyền chuyên chở gạo và ngô ở cảng Saigon cho tổ hợp thương mại Pháp Homberg-Candelier. Thống đốc Nam kỳ Maurice Cognacq ủng hộ cho thuê độc quyền này nhưng các đại biểu Việt Nam trong Hội đồng Quản hạt (Conseil Colonial) chống lại. Đại biểu Nguyễn Phan Long, sau đó mở ra chiến dịch vận động chống lại sự độc quyền này, trên tờ báo do ông làm chủ bút, “Echo Annamite” (Tiếng vọng An Nam). Những thương gia người Hoa khác ở Chợ Lớn cũng tham gia với ông Nguyễn Phan Long chống lại thành công vụ “affair Candelier” độc quyền. Điều này cho thấy ông Quách Đàm bắt tay chặt với chính quyền và quyền lợi của một một số tư bản Pháp trong công việc làm ăn của mình. Năm 1926, Quách Đàm được thống đốc Nam Kỳ Cognaq, một người bảo thủ ác cảm với những nhà yêu nước Việt Nam, trao huy chương Bắc đẩu bội tinh ở dinh phó sứ.

Tạ Mã Điền

Tờ báo Écho Annamite (13/5/1925) có đăng tin về một tai nạn xe mà chủ xe là ông Tạ Mã Điền cư ngụ ở nhà số 270 rue de Caymai (Nguyễn Trãi ngày nay). Lúc này xe hơi đã có nhiều ở Saigon, tin đăng như sau

“Hôm qua, vào buổi xế trưa, một tai nạn kinh hoàng đã xảy ra trước nhà số 49 Quai Testard (bến Testard cạnh rạch Phố Xếp, sau này lất thành đường ngày nay Châu Văn Liêm).

Đứa trẻ tên là Phan Văn Tri, con của ông Phan Văn Ngạn, ngụ tại địa chỉ trên, muốn băng qua đường, vừa lúc xe hơi số C 3886, của một người Hoa tên là Tja Mah Yen làm chủ, cư ngụ ở số 270 rue de Caymai (Nguyễn Trãi ngày nay), người lái xe tên là Trần Văn Minh 29 tuổi, cư ngụ ở nhà chủ xe, ông chủ xe hoảng hốt xuống nhanh như sao băng xem sao.

Đứa trẻ Trí không kịp để chạy vô nhà, xe hơi đã đụng làm Trí té nhào; Xe làm bé bị thương, một bánh xe cán qua người Trí.

Chủ xe kêu xe dừng lại, đứa trẻ bị thương nên chở ngay vào bệnh viện l’Hôpital Indigène de Ooohinchine.

Bác sĩ pháp y chẩn đoán bị lũng ruột và nạn nhân được giải phẩu ngay sau đó.

Một cuộc điều tra được tiến hành để xem ai là người chịu trách nhiêm tai nạn này”.

Kết quả cuộc điều tra không rõ, nhưng chủ xe là người thế nào?

Ông Tja Ma Yeng (Tạ Mã Điền) tục danh là Má Chín Dảnh sinh năm 1862 ở Batavia (Java) và mất năm 1940 ở đường Mai Sơn (trên đường này có chùa Mai Sơn tự), Chợ Lớn và được chôn ở nghĩa địa Minh Đức ở Phú Thọ. Ông là người Hoa gốc Phúc Kiến từ đảo Java (thuộc Hòa Lan lúc này) đến Chợ Lớn vào năm 1885 buôn bán và xuất khẩu gạo. Cũng như Quách Đàm, ông có các tàu vận tải chở hàng chạy bằng hơi nước và rất nhiều nhà cửa ở Saigon và Chợ Lớn. Ông là bang trưởng bang Phúc Kiến, hội viên của Hội Đồng thành phố Chợ Lớn.

Ông sở hữu hai nhà máy xay lúa Bang-aik-Guan (Vạn Ích Nguyên) và Ban-Hong-Guan. Trong giai đoạn đầu ông lập công ty buôn bán gạo “Ban Guan” (Vạn Nguyên), gia nhập quốc tịch Pháp năm 1905 và sau đó mua lại một nhà máy xay lúa chạy bằng hơi nước của một công ty Pháp (của ông Andrew Spooner trước kia) sắp sửa phải đóng cửa. Ông đặt lại tên nhà máy là Ban Aik Guan Steam Rice Mill Co. Ltd. Ông xuất khẩu gạo qua công ty của ông là “Hock Guan Hong. Bốn người con trai của ông, theo Tây học, Tạ Thanh Thuyền, Ta Thanh Tông, Tạ Thanh Hảo và Tạ Thanh Tri cũng đều tham gia vào lãnh vực thương mại.

Sau đó Tạ Mã Điền thấy nhà máy Ban Aik Guan Steam Rice Mill vẫn còn nhỏ. Để phát triển thêm, ông mua đất ở dọc bến Bình Đông và xây một nhà máy lớn hơn trang bị với máy xay lúa mới và đặt tên nhà máy mới này là “Ban Hong Guan”. Ông còn có cơ sở mua bán lúa và nhà máy xay lúa nhỏ ở 231 quai de Mytho.

Ông là người thành lập trường tiểu học Min-Zhang (Minh Dương) ở Chợ Lớn và trường trung học Pháp Hoa (Lycée Franco-Chinois), sau này gọi là trường Bác Ái (ngày nay là Đại học Sài Gòn).

Ông là bang trưởng bang Phúc Kiến, hội viên của Hội Đồng thành phố Chợ Lớn và “La Maison Retraite” (Asile des vieilards et des infirmes, thành lập ngày 27/11/1902 với F. Drouhet, thị trưởng Chợ Lớn, là chủ tịch). Ngoài ra ông còn là hội viên của “Association Nguyen Van Chi Pour la protection des aveugles asiatiques de cochinchine” (thành lập ngày 12/4/1905) mà trong Hội đồng quản trị của hội này có ông Rodier (Phó soái Nam kỳ) là chủ tịch danh dự, F. Drouhet, thị trưởng Chợ Lớn là chủ tịch và ông Quách Đàm, nghị viên thành phố Chợ Lớn là phó chủ tịch.

Qua sự đóng góp về phát triển kinh tế ở nam Kỳ, năm 1932 ông được chính phủ Pháp ban thưởng huy chương hiệp sĩ Bắc đẩu bội tinh (chevalier de Légion d’honneur).

Chú Hỏa

Căn cứ vào tên Hui Bon Hoa được khai khi nhập Pháp tịch của Chú Hỏa, nhiều tài liệu Việt ngữ cho rằng tên thật của ông là Hứa Bổn Hòa 許本華. Nhưng tra khắp thư tịch của người Tàu ở miền Nam thời đó sẽ chẳng tài nào tìm được cái tên Hứa Bổn Hòa 許本華.

Theo đa số người Tàu sống lâu năm ở Sài GònChợ Lớn thì Chú Hỏa là đại từ dùng để gọi ông Huỳnh Trọng Huấn, người được xem là đại diện của gia tộc Hui-Bon-Hoa vào đầu thế kỷ XX. Nhưng xét ra, danh xưng Chú Hỏa vốn cũng đồng thời gắn liền với Hui Bon Hua, tên do ông Huỳnh Văn Hoa 黃文華, thân phụ của Huỳnh Trọng Huấn khai khi nhập tịch Pháp.

Hui Bon Hoa chính là ký âm của Huỳnh Văn Hoatheo phương ngữ Phúc Kiến. Còn cái tên Hứa Bổn Hòa chỉ là suy diễn, do ai đó dựa theo ba chữ Hui Bon Hoa đặt ra mà thôi.

Huỳnh Văn Hoa (1845-1901) còn có tên Huỳnh Tú Vinh, hiệu Tình Nham. Gốc tổ ở huyện Nam An tỉnh Phúc Kiến, đến đời ông cụ thân sinh thì dời đến thôn Văn Táo, trấn Hòa Sơn, huyện Hạ Môn (Phúc Kiến). Năm 20 tuổi (1865), ông qua Việt Nam, đến Sài Gòn tay trắng lập nghiệp.

Chuyện làm giàu của “Chú Hỏa”

Về chuyện làm giàu của Chú Hỏa, trong dân gian lưu truyền nhiều giai thoại. Thực ra Huỳnh Văn Hoa có được số vốn ban đầu là nhờ ở lòng tốt của ông. Số là ở Sài Gòn, ông có qua lại làm ăn với một người Pháp, anh bạn này xui rủi bị sạt nghiệp, Huỳnh Văn Hoa đã tận tình giúp đỡ lộ phí cho bạn về nước. Cảm cái ơn đó, anh chàng người Pháp tiết lộ cho Hoa thông tin về khu vực nhà cầm quyền Pháp sắp quy hoạch để xây dựng thiết lộ. Huỳnh Văn Hoa bèn mua lại bãi đất sình lầy rộng lớn ở khu đó với giá rẻ, nhờ vậy ông được nhà nước thực dân đền bù số tiền lớn, Hoa có vốn mở tiệm cầm đồ đầu tiên của mình.

Ra tiệm chỉ là thoát kiếp làm công, còn để tạo dựng thịnh vượng cho cả một gia tộc lại phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố như trí phán đoán nhanh nhạy, lòng quả cảm dám quyết đoán nắm bắt thời cơ, và còn phải có ít nhiều may mắn. Trong quá trình kinh doanh của Huỳnh Văn Hoa, sự phối hợp gắn bó của ông với một người Pháp mới là quan trọng bậc nhứt.

Người đó là Antoine Ogliastro (1844-1908). Antoine xuất thân từ một đại gia tộc ở đảo Corse, lúc bấy giờ đã là một thương gia nổi tiếng, đầu tư trong nhiều lãnh vực. Năm 1875, ông thành lập công ty AntonAogeliya Manchester ở thủ đô Paris; 1876 là hội viên Hiệp hội Chambre de Commerce de Saigon và xây dựng một đồn điền hồ tiêu ở Hà Tiên; 1881 trở thành ứng cử viên đầu tiên trong cuộc bầu cử quốc hội Cochinchine (tức lãnh thổ Cộng hòa Tự trị Nam kỳ thời Pháp); 1885 đảm nhiệm Phó Lãnh sự Tây Ban Nha; 1886 là Lãnh sự Ý; 1887 là đại diện Lãnh sự quán Ý tại Sài Gòn. Ngoài ra, ông còn là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty tàu hỏa La Société générale des tramways à vapeur (SGTV), chủ Công ty xuất nhập khẩu Anton Aogeliya (Société commerciale d’import-export A. OGLIASTRO).

Huỳnh Văn Hoa luôn ghi nhớ công ơn Antoine đã dìu dắt cũng như tận lực sát cánh cùng mình trên bước đường chinh phục sự nghiệp lớn. Sau này, khi cả hai đã mất, vào thời kỳ kinh tế thế giới khủng hoảng 1929-1931, những người thừa kế gia tộc Hui-Bon-Hoa đã hết lòng ủng hộ Công ty la Société Louis Ogliastro & Cie. của Louis Ogliastrocon trai Antoine Ogliastrovượt qua giai đoạn khủng hoảng. Mối thâm giao giữa hai gia tộc Tây-Tàu này đến nay đã hơn trăm năm vẫn bền chặt như thuở ban đầu.

Trở lại với Huỳnh Văn Hoa. Năm 1887, để thuận tiện và được ưu đãi trong kinh doanh, theo gợi ý của bạn già Antoine, Huỳnh Văn Hoa nhập Pháp tịch, lấy theo tên thánh là Jean Baptiste Hui Bon Hoa. Cụm từ Hui-Bon-Hoa được con cháu sau này dùng làm họ, và “Chú Hỏa” cũng thành tên chung được truyền thừa, dùng để gọi người đứng đầu của gia tộc này ở Việt Nam qua các thời kỳ.

Danh tiếng Chú Hỏa từ đó không chỉ lừng lẫy Sài Gòn mà còn vang dội khắp Nam kỳ và lan rộng toàn cõi Đông Dương. Năm 1901, Huỳnh Văn Hoa giao sự nghiệp ở Nam Việt lại cho các con, về Tàu thăm quê và bệnh mất ở đó, được an táng ở Tuyền Châu (Phúc Kiến), hưởng dương 56 tuổi.

Huỳnh Văn Hoa tuy mất, nhưng sự nghiệp cũng như phương danh Chú Hỏa đã có được những mảnh hổ xứng đáng kế thừa phát huy.

Hậu duệ của Chú Hỏa

Ông bà Huỳnh Văn Hoa có cả thảy 15 người con, trong đó có 4 trai. Người con trưởng tên Huỳnh Trọng Mô 黃仲謨, lúc nhỏ được bác ruột là ông Huỳnh Văn Bỉnh nhận làm con. Người này lúc trẻ từng sang Việt Nam giúp Chú Hỏa trong việc kinh doanh nhưng đã sớm mệnh một khi đang độ trung niên, con cháu của ông vì không nhập Pháp tịch nên ngày càng xa dần nguồn cội.

Người con thứ hai là Huỳnh Trọng Huấn 黃仲訓, tên Tây là Tang-Hung Hui Bon Hoa, sinh năm 1876 ở Hạ Môn (Phúc Kiến). Ông là cao đồ của danh nho đất Tuyền Châu Lý Thanh Cơ. Sau khi ứng thí đỗ tú tài, ông cưới vợ rồi qua Sài Gòn trợ giúp kinh doanh với cha. Năm 1910, ông tiến hành đầu tư ở cố hương, lập Công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn đường 黃榮遠堂, xây biệt thự ở Cổ Lãng tự (nay thuộc quận Tư Minh thành phố Hạ Môn tỉnh Phúc Kiến) cho người nước ngoài thuê. Thế chiến II bùng nổ, Nhật chiếm Đông Dương (cuối 1940), người Nhật nhiều lần mời ông Huấn tham gia chính trường nhưng ông đều từ chối.

Tháng 3-1942, nhà cầm quyền Nhật nghi ngờ ông Huấn qua lại với chính phủ Tưởng Giới Thạch nên bắt giam ông. Hơn ba năm sau, Nhật Bản đầu hàng Đồng minh (8-1945), ông mới được trả tự do. Huỳnh Trọng Huấn qua đời tại Sài Gòn năm 1951, hưởng thọ 76 tuổi. Ông có vai vế cao nhất gia tộc Hui-Bon-Hoa, và cũng là người thừa kế danh hiệu “Chú Hỏa”.

Người con thứ ba của Huỳnh Văn Hoa tên Huỳnh Trọng Tán 黃仲讚Tang-Chanh Hui Bon Hoa, sinh năm 1877 tại Tuyền Châu, Phúc Kiến. Sau khi cưới vợ, ông qua Annam hiệp trợ kinh doanh với gia đình. Người này tính tình trầm ổn, có công lớn khuếch trương chuỗi hiệu cầm đồ và kinh doanh bất động sản của Hui-Bon-Hoa nên được mọi người trong gia tộc kính nể. Ông Tán ít khi ra mặt giao tiếp lại mất sớm (1934) nên ít được người ngoài biết đến. Phải vài tháng sau khi Huỳnh Trọng Tán mất, Tạp chí Kinh tế-Tài chính Nam kỳ phát hành số đặc biệt để tưởng niệm và tuyên dương những cống hiến của ông trong nâng cao phúc lợi xã hội cho Nam kỳ, người ta mới biết đến những đóng góp của ông. Thập niên 1960, con cháu của ông Tán dần dần thiên di ra nước ngoài.

Người con trai thứ tư là Huỳnh Trọng Bình 黃仲評Thang-Phien Hui-Bon-Hoa, sinh năm 1892. Sinh sau đẻ muộn nên thời trẻ Bình được cho du học, chỉ đến khi ông đã thuần thục (1922) mới tham gia kinh doanh, hỗ trợ Huỳnh Trọng Huấn trong đối ngoại. Sau khi hai người anh mất, ông Bình thành người quản lý tối cao và kế tục danh hiệu “Chú Hỏa”.

Anh em nhà họ phân công nhau, Huỳnh Trọng Huấn tính tình hào sảng hiếu khách phụ trách đối ngoại giao tiếp với khách hàng, Huỳnh Trọng Tán trầm lặng sâu xa lo việc đối nội quản lý tài vụ. Khi phải về Tàu đầu tư, Huỳnh Trọng Huấn cho xây một cầu mát ở thắng cảnh Nhật Quang nhai của Cổ Lãng tự để tỏ lòng nhớ người em Huỳnh Trọng Tán. Tình cảm anh em của họ sâu sắc trên thuận dưới hòa, nên trong công việc kinh doanh phối hợp cực kỳ ăn ý.

Năm 1931, khi gia tộc làm lễ “hợp bách tuế” (mừng tuổi của hai trưởng bối Trọng Huấn, Trọng Tán cộng lại tròn trăm), Huỳnh Trọng Huấn nhân dịp này đặt ra bài Huỳnh Vinh Viễn đường mục hành tự 黃氏榮遠堂穆行序:

  • 慶元積善 Khánh nguyên tích thiện
  • 和以致祥 Hòa dĩ trí tường
  • 丕基南振 Phi cơ Nam chấn
  • 修業東揚 Tu nghiệp Đông dương
  • 子承孫繼 Tử thừa tôn kế
  • 源遠流長 Nguyên viễn lưu trường
  • 嘉禾文藻 Gia hòa văn tảo
  • 翹首家鄉 Kiều thủ gia hương

(Dịch nghĩa là:

  • Mừng dòng họ càng thêm người càng chứa điều thiện
  • Lấy hòa thuận làm điều cực tốt lành
  • Nền tảng lừng lẫy phương Nam
  • Công nghiệp rạng rỡ phương Đông
  • Con truyền cháu nối
  • Gốc vững dòng bền
  • Điềm lành đẹp đẽ
  • Ngẩng đầu với quê xưa).

Đây là loại thơ mà các dòng họ lớn của người Tàu áp dụng để đặt sẵn chữ lót cho con cháu, giúp họ hàng dễ nhận ra và biết vai vế thứ bậc của nhau, còn gọi là “Phả tự thi” 譜字詩. Đời chữ Khánh, tức thế hệ thứ ba của dòng họ HuiBonHoa đã có hơn 50 người, đến thời điểm 1975 đã xuất hiện tên đệm bằng chữ Tích (thế hệ thứ năm). Dòng dõi Chú Hỏa từ đây đâm cành nảy nhánh sum suê thịnh vượng.

Bài thơ này của Huỳnh Trọng Huấn được khắc lại theo thủ bút của ông, treo ở từ đường của Huỳnh Vinh Viễn đường. Loạn lạc năm 1975 làm cho tấm bảng khắc Phả tự thi này biến mất. Hơn 30 năm sau đó (2007), một người thuộc hàng chữ Nguyên (thế hệ thứ tư) của gia tộc Hui-Bon-Hoa sang Việt Nam cúng phần mộ ông bà, tình cờ gặp lại bảng khắc Phả tự của nhà mình được bày bán bên lề đường đã lập tức mua lại. Tấm biển được mang về Pháp sum họp với con cháu.

Khu dinh thự Nhà Chú Hỏa

Khu dinh thự của gia tộc Hui-Bon-Hoa tọa lạc ở Quận Nhứt, Sài Gòn. Khu đất này ban đầu vốn là nơi ông Huỳnh Văn Hoa cất nhà liền kề nhau cho các con trai, sau này được Huỳnh Trọng Huấn tậu rộng thêm, với tổng diện tích 3.514m2. Mặt tiền là đường d’Alsace Lorraine (nay là đường Phó Đức Chính); bên trái là đường Hamelin (1955 đổi thành đường Hồ Văn Ngà, nay là Lê Thị Hồng Gấm); bên phải là đường d’Ayot (1955 đổi tên thành đường Nguyễn Văn Sâm, nay là đường Nguyễn Thái Bình); và sau lưng là đường Bourdais (nay là Calmette).

Sau khi từ Hạ Môn về, Huỳnh Trọng Huấn nhờ kiến trúc sư người Pháp là Rivera thiết kế hòa hợp Á-Âu, xây bốn dinh thự ở khu đất này (1925-1929), gồm: Trọng Huấn lâu, nay dùng làm Bảo tàng Mỹ thuật; Trọng Tán lâu, được Cộng quân dùng làm trụ sở ngân hàng một thời gian, sau đó đã dỡ bỏ; Trung lâu, tòa nhà này tầng dưới là tổng hành dinh của Công ty bất động sản Huỳnh Văn Hoa (tên Tây là Société Immobilière Hui-Bon-Hoa, SIHBH), tầng giữa là từ đường của dòng họ, giờ là một phần của Bảo tàng Mỹ thuật; Trọng Bình lâu, nay đã được chính quyền cho tư nhân thuê.

Quần thể biệt thự này thời bấy giờ được gọi theo tên công ty địa ốc của anh em nhà Hui-Bon-Hoa là khu dinh thự “Huỳnh Vinh Viễn đường”, còn giới bình dân thì gọi là Nhà Chú Hỏa.

Đối diện Nhà Chú Hỏa là nhà 66 Phó Đức Chính, địa chỉ này vốn là tiệm cầm đồ đầu tiên của Huỳnh Văn Hoa. Sau khi xây dựng xong bốn dinh thự Huỳnh Vinh Viễn đường, Huỳnh Trọng Huấn cũng cho xây mới tòa nhà này, dùng làm nơi trú ngụ cho người vợ kế và các con của ông (Hình 4). Sau 1975, nhà này cũng được chính quyền mới tịch biên. Sau nhiều lần sang tay nhau giữa các ông chủ đỏ, địa chỉ này hiện nay là Cao ốc văn phòng SacomrealGeneralimex.

Kinh doanh cầm đồ

Từ 1864, nhà cầm quyền Pháp đã cấp phép cho tư nhân mở tiệm cầm đồ trên lãnh thổ Nam kỳ. Tiệm cầm đồ đầu tiên của Saigon-Cholon là Công ty MM. Apan Suo-yoo, do Hoa kiều Apan thành lập. Do lúc bấy giờ, giới kinh doanh ngành này thu lãi suất quá cao, nên vào 1871, chính quyền thực dân đã phải ban hành quy chế quản lý lãi suất, đồng thời cũng chính thức cho phép mở tiệm cầm đồ ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Sa Đéc, Vĩnh Long và Châu Đốc.

Năm 1875, Antoine Ogliastrongười sau này là bạn tâm giao của Huỳnh Văn Hoathành lập công ty Antoine Ogliastro & Cie. ở Paris, tham gia kinh doanh lãnh vực cầm đồ. Em vợ của Antoine là Oscar du Crouzet làm giám đốc cho Apan, qua đó mà Antoine kết giao với Hoa kiều Apan. 1878, hai người cùng với một Pháp kiều khác là Théodore Blustein hợp tác thành lập công ty cầm đồ La Société Apan, Ogliastro-Blutstein et Cie. ở Sài Gòn. Sau này, Blutstein qua đời, công ty đổi tên thành La Société Ogliastro-Blutstein, Apan et Cie.. Công ty của họ lần hồi mở thêm chi nhánh ở Đa Kao, Cầu Kho, Gia Định, và ở cả miệt Lục tỉnh như Vĩnh Long, Cần Thơ, Long Xuyên, Tân An… Huỳnh Văn Hoa đã kết giao với Antoine trong quãng thời gian này.

Không ai biết đích xác họ quen nhau trong trường hợp nào, chỉ biết từ 1887, Huỳnh Văn Hoa đã là người quản lý toàn bộ ngành kinh doanh cầm đồ của Antoine ở xứ Nam kỳ. Những năm tiếp theo đó, họ luôn hùn hạp trong mọi cuộc làm ăn, cùng sánh vai nhau xây dựng sự nghiệp.

Năm 1900, các cửa tiệm cầm đồ của Antoine đều được Huỳnh Văn Hoa hùn vốn, công ty của Antoine từ đó đổi tên thành Công ty hợp doanh Ogliastro, Hui Bon Hoa et Cie. Năm 1901, Huỳnh Văn Hoa tạ thế, thế hệ Chú Hỏa thứ hai thừa kế cổ phần của hợp doanh này. Chẳng những thế, đến sau khi Antoine qua đời (1908), hai con ông là Lucien Ogliastro và Louis Ogliastro vẫn tiếp tục hợp tác với các con của Huỳnh Văn Hoa. Năm 1912, Lucien mất. Năm 1927, Louis chuyển hướng kinh doanh ra thị trường Bắc kỳ và Cao Miên (Campuchia). Tuy vậy, đến năm 1951 Louis mới tuyên bố giải thể, rút vốn và rời khỏi thị trường Đông Dương.

Chuỗi tiệm cầm đồ do thế hệ thứ hai của hai dòng họ ngày càng khuếch trương: ra Gò Vấp, Hóc Môn, Bà Chiểu; xuống tới Mỹ Tho, Gò Công, Bãi Xàu, Sóc Trăng… Nói chung, mạng lưới kinh doanh của họ phủ khắp các thị tứ và cảng sông trọng yếu của miền Nam.

Năm 1930, đối thủ của gia tộc Hui-Bon-Hoa xuất hiện, đó là công ty kinh doanh động sản và tín dụng của Ấn Độ, Crédit Mobilier Indochinois, có số vốn 10 triệu franc.

Năm 1931, Tòa Thị chính cho đấu thầu quyền khai thác tín dụng ở Saigon, chỉ có hai công ty là Ogliastro-Hui Bon Hoa và Crédit Mobilier Indochinois dự thầu. Người Ấn đã phá giá, đề xuất mức thuế cầm đồ là 25% để giành được quyền kinh doanh trong 6 năm. Công ty của hai gia tộc Ogliastro và Hui-Bon-Hoa phải rút khỏi thị trường Saigon. Ngay trong năm đó, Indochinois mở rộng thêm chi nhánh, không chỉ xuống Nam kỳ Lục tỉnh mà còn lan tỏa ra Hà Nội, Hải Phòng, Phnom Penh. Tính riêng ở Nam kỳ, năm 1938 tổng cộng có 28 tiệm cầm đồ thì đến 16 tiệm là của Indochinois, còn lại 12 tiệm là của Ogliastro-HuiBonHoa. Phải đến 1950, Indochinois giải thể, gia tộc Hui-Bon-Hoa mới trở lại địa vị thống lãnh kinh doanh cầm đồ ở Nam kỳ.

Kinh doanh bất động sản

Lúc ban đầu lập nghiệp, Huỳnh Văn Hoa nhờ biết được thông tin sắp xây dựng tuyến đường sắt ở Saigon, ông đã tậu một khu đất hoang sình lầy diện tích gần 10ha với giá rẻ gần như cho không. Đến 1881, khi khởi công xây dựng tuyến đường hỏa xa Saigon-Cholon, nhà cầm quyền Pháp đã đền bù cho Hoa một số tiền lớn, đủ để ông ra tiệm cầm đồ. Không những thế, khu vực đó sau khi mở nhà ga liền trở nên sầm uất, Chú Hỏa bèn cho cất nhà trên diện tích còn lại để bán và cho thuê. Khu đất phát tích của Huỳnh gia đó tọa lạc ở Quận Nhứt, được người trong gia tộc Hui-Bon-Hoa gọi là Hậu Phương Lan 厚芳蘭. Địa danh này được khắc trang trọng trên mộ chí của Huỳnh Văn Hoa. Sau này Huỳnh Trọng Huấn đầu tư dinh thự ở Hạ Môn cũng cho xây một nhà kỷ niệm có tên Hậu Phương Lan quán để ghi nhớ công ơn khai phá cơ nghiệp của cha mình.
Chẳng có tư liệu nào ghi chép địa điểm cụ thể của bãi đất hoang ấy. Còn cái tên Hậu Phương Lan nghe vừa văn vẻ vừa lạ hoắc, thật ra chính là ký âm phương ngữ Quảng Đông của địa danh Cầu Ông Lãnh.

Khu vực Cầu Ông Lãnh nằm giữa khuôn viên các đường Galliéni (tức đường Trần Hưng Đạo), Marchaise (đường Bác sĩ Yersin), Dixmude (đường Đề Thám) và đường Belgique (tức Bến Chương Dương). Thời Pháp, dân Tàu kêu Cầu Ông Lãnh bằng Hậu Phương Lan, đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa mới phiên âm trực tiếp là Cựu Ông Lãnh 舊翁領 hoặc Cựu Ngũ Luân 舊五倫. Khu dinh thự Huỳnh Vinh Viễn đường liền kề đại lộ de la Somme (nay là Hàm Nghi), nhà ga xe lửa đầu tiên của Saigon được xây dựng ở đại lộ này. Cạnh đó là chợ Bến Thành, nơi đến nay vẫn còn lưu lại những biệt thự kiểu Pháp do gia tộc Hui Bon Hoa xây dựng.

Năm 1901, sau khi Huỳnh Văn Hoa mất, hai anh em Trọng Huấn và Trọng Tán quyết định thành lập Công ty huynh đệ Hui-Bon-Hoa (La Société Hui Bon Hoa et fréres). Công ty này chuyên kinh doanh địa ốc, cất nhà cho thuê, xây dựng nhà xưởng và các tòa nhà thương mại. Phạm vi hoạt động của nó không chỉ ở Saigon mà còn mở rộng trên toàn Liên bang Đông Dương và các quốc gia lân cận. Anh em họ phân công nhau: Trọng Tán xử lý công cuộc làm ăn ở Nam kỳ, Trọng Huấn về Hạ Môn đầu tư, phát triển sự nghiệp ra hải ngoại.

Năm 1918, Đệ nhất Thế chiến kết thúc, kinh tế suy thoái khiến giá đất giảm mạnh, Huỳnh Trọng Tán phóng tay thu mua và xây cất nhà cửa, dinh thự ở Saigon-Cholon. Khắp các đại lộ huyết mạch và chợ đầu mối thuộc địa bàn này đều có cơ ngơi tòa ngang dãy dọc của Chú Hỏa. Ở thời kỳ cực thịnh, Công ty địa ốc Hui-Bon-Hoa sở hữu hơn hai vạn ngôi nhà, bằng 1/5 tổng số địa ốc Saigon-Cholon lúc bấy giờ. Qua thời kỳ suy thoái, kinh tế khởi sắc khiến giá bất động sản tăng dần, cơ nghiệp của Huỳnh gia cũng tăng theo đều đều. Cùng lúc đó, công ty địa ốc Huỳnh Vinh Viễn đường do Huỳnh Trọng Huấn thành lập ở Hạ Môn cũng xây cất được hơn 60 tòa biệt thự trên đảo Cổ Lãng, việc làm ăn cứ thế phát triển tính bằng ngày.

Giai đoạn Đệ nhị Thế chiến, các thành viên thuộc hàng chữ Khánh (thế hệ thứ ba) của gia tộc cũng chung tay nhập cuộc kinh doanh. Năm 1943, danh sách Hội đồng quản trị của Tổng Công ty địa ốc Hui-Bon-Hoa ngoài ba anh em Huấn, Tán, Bình, còn có thêm tên của: Khánh Nam 慶楠 (Khien-Nam Hui-Bon-Hoa, con trai Trọng Huấn), Khánh Sam 慶杉 (Khien-Sam Hui-Bon-Hoa, con trưởng Trọng Tán), Khánh Tung 慶樅 (Khien-Chion Lucien Hui-Bon-Hoa, con thứ Trọng Tán), Khánh Phong 慶楓 (Khien-Hong Luce Hui-Bon-Hoa, con trai thứ ba của Trọng Tán).

Công việc kinh doanh của Sài thành đệ nhất phú gia lúc này đã phát triển sang các lãnh vực khai thác đồn điền cao su ở các tỉnh miền Đông và mở nhà máy chà gạo ở các tỉnh miền Tây. Các biệt thự nghỉ mát cho người trong dòng tộc được xây dựng ở Đà Lạt; các biệt thự tránh nóng cũng được xây ở Vũng Tàu để các cô cậu thuộc hàng chữ Khánh mỗi cuối tuần ra tắm biển, lái du thuyền; và một khu phần mộ rộng lớn ở Biên Hòa cũng được hình thành, để các trưởng bối lui về yên nghỉ ngàn thu ở xứ Nam kỳ cây lành trái ngọt.

Huỳnh gia mộ viên

Năm 1901, ông bà Huỳnh Văn Hoa mất, được an táng ở Tuyền Châu. Lúc bấy giờ, tiếng tăm của nhà cự phú đã lan xa ngoài lãnh thổ Nam kỳ nên bọn trộm mộ đã vài lần “viếng thăm” nơi yên nghỉ của Chú Hỏa. Các “Mô Kim hiệu úy” đã không tìm được gì, bởi Jean Baptiste Hui Bon Hoa vốn theo tín ngưỡng Công giáo nên không theo phong tục tùy táng của cải của người Trung Hoa. Anh trai Tàu năm xưa đến Annam với đôi bàn tay trắng, đến chót đời cũng trắng hai tay khiêm nhường về với Chúa. Ba anh em Huỳnh Trọng từ đó không còn ý định gửi nắm xương tàn của mình về cố quốc nữa.

Năm 1934, Trọng Tán mất. Trọng Huấn chọn một khu đất thuộc Thủ Đức để làm mộ địa cho toàn gia tộc và an táng em mình ở đó. Khu mộ này qua đến thời Đệ Nhất Cộng Hòa được phân địa giới hành chánh thuộc quận Dĩ An, tỉnh Biên Hòa, và được dân Biên Hòa gọi là “Mộ Chú Hỏa”. Khu đất nằm trên đồi cao, đoạn dốc chỗ đó cũng được gọi “Dốc Chú Hỏa”. Cách gọi tắt này khiến nhiều người lầm tưởng đó là mộ riêng của Huỳnh Trọng Huấn, nhưng đây thật ra là nghĩa địa của cả gia tộc Hui-Bon-Hoa. Huỳnh gia mộ viên là một công trình liên hoàn, bố trí trên diện tích hơn 5ha, với đầy đủ các kiến trúc tiêu biểu của một nghĩa trang Phúc Kiến, có cổng chính, miếu Thổ thần, nghĩa từ, nhà bia.

Năm 1951, Trọng Huấn; rồi 1961 đến Trọng Bình lần lượt được an táng nơi đây. Nằm riêng biệt trên ngọn đồi cao nhất ở trung tâm mộ viên là 3 ngôi mộ của anh em Huỳnh Trọng. Mộ phần ba đại phú hào y hệt những ngôi mộ bình thường khác của người Tàu, ngoại trừ văn bia và mộ chí Trọng Tán là do các thợ bậc thầy được mời từ bên Tàu qua phụ trách; toàn bộ điêu khắc ở đây đều do các nghệ nhân Phúc Kiến ở làng đá Bửu Long (Biên Hòa) tạo tác. Hai trụ đá trước mộ Trọng Huấn là đôi liễn:

友于兄弟 Hữu vu huynh đệ
卜共山邱 Bốc cộng sơn khâu

(Anh em hòa thuận/ Chọn chung đồi núiCâu “Hữu vu huynh đệ” là thành ngữ xuất xứ trong Kinh Thư, thiên Quân Trần, ý nói người bạn đầu tiên trong đời mỗi người chính là anh em của mình).

Tính đến năm 1975, tổng cộng có tám người thuộc gia tộc Hui-Bon-Hoa (kể cả ba anh em Huấn-Tán-Bình) được chôn cất ở đây.

Sau 1975, trước khi rời Việt Nam không hẹn ngày trở lại, gia tộc Hui-Bon-Hoa cấp cho người chăm sóc Huỳnh gia mộ viên một số vốn để đảm bảo người này vẫn tiếp tục nhiệm vụ của mình. Những năm cuối thập niên 90, con trai người thủ mộ đó (được biết tên là Lương) mạo nhận mình là con cháu Chú Hỏa, đã chiếm dụng đất này của dòng họ Hui-Bon-Hoa, cắt đất bán cho người ngoài vào xây dựng thổ cư. Từ năm 1999, Dĩ An được chuyển giao cho tỉnh Bình Dương. Trải nhiều lần xáo trộn hành chánh, người xâm phạm ngày càng đông, đến nay thì khu mộ viên này đã thành một mê cung, nếu không có người hướng dẫn thì không tài nào tìm được nơi yên nghỉ của ba anh em Huỳnh Trọng.

Những đóng góp của gia tộc Hui-Bon-Hoa

Triết lý kinh doanh của nhà Hui-Bon-Hoa là lợi nhuận thu được từ cộng đồng phải được dùng để phục vụ trở lại cho cộng đồng, nâng cao phúc lợi xã hội. Chú Hỏa được khắp miền Nam nhớ đến không phải vì tài sản kếch sù, mà vì những đóng góp cho xã hội. Không tài nào thống kê được cụ thể có bao nhiêu ngôi nhà do Công ty địa ốc Hui-Bon-Hoa xây dựng cho dân nghèo thuê với giá rẻ. Ngót trăm năm đã trôi qua, đến nay người ta vẫn còn có thể nhiều lần bắt gặp không chỉ ở Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn, mà cả ở miệt Lục tỉnh, những dãy nhà liền kề nhau rất đặc trưng kiểu “Chú Hỏa”. Những người dân nghèo bất kể Tàu, Việt, đều có thể tìm đến Công ty Hui-Bon-Hoa để thuê hoặc mua trả góp một ngôi nhà khang trang đủ tiện nghi gia đình và phù hợp với túi tiền của mình.

Nhiều công trình lớn do họ xây dựng đến nay vẫn phát huy công năng. Hạng mục này không cần phải kể nhiều, chỉ xin tùy tiện điểm qua vài công trình quan trọng: Phước Thiện y viện (Huỳnh Trọng Tán xây năm 1909, nay là Bệnh viện Nguyễn Trãi), Chẩn y viện (Huỳnh Trọng Huấn xây năm 1937nay là Bệnh viện Đa khoa Sài Gòn), Bảo sanh viện Đông Dương (1937nay là Bệnh viện Phụ sản Từ Dũ), chùa Phụng Sơn (Huỳnh Trọng Bình xây năm 1949số 338-340 Nguyễn Công Trứ, Quận I), chùa Kỳ Viên (năm 1949số 610 Nguyễn Đình Chiểu, Phường 3, Quận 3), Thành Chí học hiệu (Huỳnh Khánh Mi xây, nay là Trường THCS Minh Đứcsố 75 Nguyễn Thái Học, Phường Cầu Ông Lãnh, Quận I)…

Từ thời Pháp thuộc, khi Huỳnh Trọng Tán mất (1937), để vinh danh gia tộc Chú Hỏa, chính quyền thực dân đã đặt tên cho con đường nối liền Saigon với Cholon là Đại lộ Hui Bon Hoa (Boulevard Hui Bon Hoa), chính là đường Lý Thái Tổ ở Quận 10 ngày nay.

Nguồn: Tổng hợp từ bài của Nguyễn Đức Hiệp, Lê Vinh Huy

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận